CẢM TÍNH VÀ LÝ TÍNH

Xét theolẽ tự nhiên, con người ai cũng ham thích nói lý, dùng lý lẽ để khẳng định, lậpluận, biện minh cho những ý muốn, hành động của mình. Đồng thời lại rất ưa chuộngtình cảm (cảm tính), nhất là những tình cảm hợp với ước muốn của mình, đặc biệtnhững khuynh hướng được thúc đẩy do những dục vọng tiềm tàng từ trong vô thức.

Như aicũng biết, lý trí hay lý tính có nhiệm vụ tìm ra sự thật, tìm ra chân lý để dẫndắt, soi sáng cho những hành vi của con người khỏi lầm đường lạc lối. Cảm tính,cảm xúc hay tình cảm lại rất cần cho cuộc sống, là động lực thúc đẩy để con ngườihành động , làm cho đời sống thêm phong phú, sáng tạo, sinh động, tạo nên mộttâm hồn có sức sống, nhạy cảm, nhiệt huyết, được chan hòa tới mọi người và mọivật.

Bạn đang xem: Cảm xúc và lý trí

Nhưng đểsống cho có tình có lý, nhất là để mọi việc sao cho “thấu tình đạt lý” thì quảlà một vấn đề không  đơn giản. Nó là mộtquá trình thông qua nhiều giai đoạn, đi từ nhận thức cảm tính cho đến tư duy trừutượng, được kiểm chứng bằng thực tế củavấn đề, sự kiện. Nhưng để hiểu được một cách đúng đắn của vấn đề cảm tính và lýtính, con người lại phải qua quá trình giáo dục, rèn luyện, tư duy khoa học, kiểmnghiệm, và nhiều vấn đề còn phải tu dưỡng mới hiểu và khắc phục được những nhậnthức sai lầm về sự việc, sự vật, nhất là nhận ra được chân lý.

CẢM TÍNH VÀ LÝ TÍNHTHEO TRIẾT HỌC

Trongtriết học, người ta phân biệt rất rõ ràng giữa nhận thức cảm tính và lý tính .

* Nhận thức cảm tính:

Làsự nhận thức ở giai đoạn đầu, con người sử dụng các giác quan để tác động vào sựvật nhằm nắm bắt sự vật. Trước tiên các sự vật, hiện tượng tác động trực tiếpvào giác quan của con người, nó phản ánh các thuộc tính riêng lẻ mà con người cảmnhận bằng những cảm giác, cảm xúc.

Từcảm giác, cảm xúc được tổng hợp thành những tri giác, là sự nhận thức một cáchtổng quát về các sự vật hay hiện tượng của vấn đề thông qua giác quan. Từ đó nótrở thành những biểu tượng, nhờ đó con người hình dung ra những sự vật mà khôngcần nhờ tới giác quan trực tiếp tác động vào.

Ngườita nghiên cứu, giai đoạn cảm tính này cũng có trong một số động vật.

* Nhận thức lý tính:

Làhình thức cơ bản của tư duy trừu tượng, phản ánh những đặc tính bản chất của sựvật. Từ đây tìm ra một khái niệm, nói lên sự khái quát, đặc điểm, thuộc tính củasự vật, trở thành cơ sở cho luận lý, suy luận và phán đoán các hiện tượng, sự vật.

Luậnlý học hay logic học giúp con con người tư duy theo phương pháp khoa học, tránhđược những cảm giác, cảm tính chi phối, bằng cách liên kết những khái niệm vớinhau, để so sánh, phân tích và tổng hợp những đặc điểm, thuộc tính của đối tượng,nhằm khẳng định hay phủ định sự việc, sự vật.  Từ đây con người có thể suy luận theo diễn dịchhay quy nạp giữa các phán đoán để hình thành một tri thức mới mang tính đặctrưng hoặc phổ quát.

Nhờnhận thức lý tính, con người mới nhận ra những mối liên hệ, bản chất, yếu tính, thuộc tính của sự vật.

Tuynhận thức cảm tính và lý tính có sự khác biệt nhau, nhưng chúng không tách biệtnhau mà luôn có mối quan hệ chặt chẽ với nhau. Không có nhận thức cảm tính thìkhông có nhận thức lý tính, không có nhận thức lý tính thì không nhận thức đượcbản chất, yếu tính thật sự của sự vật.

CONNGƯỜI THƯỜNG SỐNG THEO CẢM TÍNH HAY LÝ TÍNH

Như ai cũng có thể biết, lý tính giúp con người tìm ra chân lý,vì chân lý là những cái tồn tại mang tính bất biến, nó nằm ngoài ý thức của conngười. Chân lý có sẵn chứ không do con người tạo ra, là chân lý của các ngành khoahọc, những chân lý về tinh thần, tâm linh, siêu hình… Con người nhờ tư duy khoahọc hoặc tu dưỡng qua những trải nghiệm về tinh thần, về tâm linh mà nhận biết,phát hiện. Lý tính hay lý trí là ngọn đèn soi dẫn, là ánh sáng dẫn dắt, canh chừngcho những hành vi của con người khỏi lầm đường lạc lối, mà mục đích của nó là địnhhướng hành vi theo chân lý.

Nhưng thực tế cho thấy, đa số con người chỉ dừng lại ở cảm tính,nếu có lý luận cũng thường do cảm tính dẫn dắt, được thúc đẩy qua những cảm xúclàm chủ thuận theo khuynh hướng riêng. Lý luận thường biện minh, bảo vệ cho ýmuốn, mục đích của chủ thể, muốn được hợp thức hóa cho những hành vi của mình.Sự xáo trộn, bất an, mặc cảm, lầm lạc, nhiều sa lầy, bế tắc, bất hạnh, đau khổ…của nhiều người là bằng chứng cho thấy ít người để cho lý tính chân chính hướngdẫn, nếu có thường chỉ bảo vệ cho quanđiểm riêng hoặc mưu cầu một ý đồ hay lợi lộc nào đó, có khi biện minh để thỏamãn cho những dục vọng riêng tư của  cánhân mà thôi. Vì vậy nhiều khi chính mình đang tự lừa dối mình mà không biết.

Con người có nhiều thành kiến về sự vật sự việc, thành kiến vềngười này người nọ, lại có nhiều yêu ghét về vật này vật nọ, về đối tượng này đốitượng kia, cũng như mang những kỳ thị trong cộng đồng xã hội và bao điều thamlam ham hố ở đời. Tất cả đều bị nó dẫn dắt hướng tới hành động, mà những điềunày đều xuất phát từ cảm tính chứ không phải lý tính. Như trong tâm lý học, khoahọc trình bày những trạng thái của con người, từ vô thức, tiềm thức cho đến ýthức. Đó là tâm lý tự nhiên của con người vốn có, đã được phú bẩm mà không cần thông qua học hỏi và luyện tập. Ngoàiphần ý thức ở trình độ cao, còn hầu hết hành vi của con người đều xuất phát ởphạm vi cảm tính, nên nó chi phối phần lớn cuộc sống con người. Bởi vậy, nhữngthuật xử thế, thuật đắc nhân tâm và những thuật khác liên quan đến con người đềuáp dụng tâm lý, tác động vào những cảm giác, cảm xúc của con người để đạt đượcmục đích.

Những điều trên cho thấy, phần lớn con người đều sống theo cảmtính, bị tình cảm, cảm xúc dẫn dắt, dù rằng lý lẽ vẫn tồn tại, nhưng chẳng qualà biện minh, bảo vệ cho những “ý đồ” của con người.

CẢMTÍNH VÀ LÝ TÍNH LÀ CẶP SONG HÀNH HAY ĐỐI LẬP

Theo nghĩa thông thường người ta vẫn hiểu, lý tính hay lý trí đốilập vớitình cảm,cảm xúc,ước muốn, nhu cầu, đam mê. Tuy đối lậpnhưng nó luôn song hành với nhau, nó cùng hiện diện nơi con người, hiếm khi nóđộc lập hoàn toàn, khó có thể mang tính thuần lý hay thuần cảm tính. Khi tôiyêu điều này, vật này, người này là tôi vận dụng đủ lý lẽ để biện minh cho cáitôi yêu. Còn nếu tôi ghét, tôi cũng có lý lẽ như vậy.

Cũng như khi tôi dùng lý trí để tìm ra một phương án giải quyếtcông việc, khi thi hành, tôi vẫn bị chi phối bởi sự ưa chuộng, ham thích, hoặckhó chịu, thành kiến, ghét việc này việc nọ, người này người nọ. Nhưng nhiềukhi khi lý tính mâu thuẫn với một số mong muốn mà chủ thể có cảm tưởng rằng lýtính tách rời với cảm xúc. Ngược lại, đôi khi con người cảm thấy một cảm xúc mạnhmẽ đã chiến thắng các lý luận một cách phi lý, mặc dù cảm xúc đó đã không cònluận cứ xác đáng nào, hoặc khi nó chưa kịp là chủ đề của lý luận thì hành độngđã xảy ra, như trong trường hợp phản xạ chẳng hạn, nó xảy ra trong những tìnhhuống bất ngờ.

Bởi vậy con người mới trở nên phức tạp, nhiều mâu thuẫn ngaychính nội tại, tất cả đều do lý tính và cảm tính không hòa hợp được với nhau.Điều này cũng là nguyên nhân gây đau khổ cho con người.

Như đã đề cập, chân lý là đỉnh cao của trí tuệ - lý tính – nhưngcon người ít quan tâm để sống theo chân lý nên sự xáo trộn và mâu thuẫn cũng xuấthiện. Khuynh hướng con người ham thích được chiều chuộng theo bản năng, lệ thuộcvào “hỉ, nộ, ái, ố, ai, cụ, dục” của những đòi hỏi tự nhiên, nghĩa là đắm mìnhtrong những cảm giác, cảm xúc thuộc về cảm tính mà giác quan nhận được. Vì vậy khôngchỉ là đối lập giữa cảm tính và lý tính mà trở thành đối đầu, xung khắc làm chochủ thể luôn luôn thấy bất an, dù bề ngoài có vẻ khoan khoái và sung sướng,nhưng chỉ là nhất thời, giả tạo.

CẢMTÍNH VÀ LÝ TÍNH HOẠT ĐỘNG TRÊN HAI BÁN CẦU NÃO – CHỨC NĂNG

Hoạt động trí tuệ chịu sự khống chếcủa não, song não lại chia thành hai bán cầu là bán cầu não phải và bán cầu nãotrái và hai bán cầu này có ưu thế, chức năng khác nhau.

Bán cầu não trái có nhiệm vụ xử lý ngôn ngữ, tư duy trừu tượng,viết, tính toán, sắp xếp, phân loại, ghi nhớ từ ngữ và tri giác thời gian, nócó thói quen phân tích từng bước một.

Bán cầu não phải có vai trò xử lý hình tượng tổng thể, khái niệmkhông gian, phân biệt hình vẽ, khả năng cảm thụ âm nhạc, khả năng bắt chước, nócó khuynh hướng phân tích trực quan, chỉnh thể vấn đề.  

* Người có khuynh hướng về bán cầu não trái:

- Thiên về lý tính, cótính khách quan, tư duy trừu tượng, lý luận chặt chẽ, phán đoán hợp lý, xử lý ýtưởng từng bước.

-Tính logic thông tin và ý tưởng, biết phân tích từng bước sau đó định hình tổngthể, tìm tòi, biết so sánh, chứng minh.

-Biết đặt vấn đề, lập kế hoạch, tập trung bền, có mục tiêu rõ ràng, làm việc cóphương pháp, theo nguyên tắc và quy định, tính bền bỉ, kiên trì, quyết đoán. Biếtphân bố, làm chủ được thời gian.

-Ngôn ngữ phong phú, dễ nhớ tên hơn hình dáng, có bố cục. Tinh thần độc lập, nghịlực, bản lĩnh, cân nhắc, kín kẽ, sống thực tế, chính xác, cụ thể.  

-Có đời sống cứng nhắc, khô cằn, ít sáng tạo, giao tiếp thiếu mềm mại, thiếutình cảm, khó cảm thông, dễ độc đoán, độc tài, dễ khổ trí.

* Người có khuynh hướng về bán cầu não phải:

- Thiên về cảm tính, nhận xét, phánđoán theo thành kiến, chủ quan.

-Xử lý các ý tưởng cùng một lúc, dùng hình ảnh để nhớ, ít có cảm nhận về thờigian, hay bốc đồng, dễ chán nản, thiếu tính độc lập, thiếu kiên nhẫn, tập trungkém, tản mạn.

-Khó khăn dùng từ ngữ diễn tả, muốn trải nghiệm hơn là dùng tài liệu, thiếu tựtin vào khả năng sáng tạo bản thân, quyết định vội vàng, võ đoán, thiếu hệ thống.

-Thích đụng chạm khi quan sát vật thể, thích được chiều chuộng và lời vuốt ve, sốngtình cảm, yêu, ghét, vui, buồn bất chợt tùy theo hứng, bị thần kinh kích động.

-Gặp khó khăn trong việc phân bố tính chất ưu tiên nên thường trễ hạn (giờ)trong công việc và hay thay đổi, thích nghe điều gì sắp nói đến, hướng về tìnhcảm cao đẹp.

-Trựcgiác bén nhạy nên không cần thông qua suy luận, có óc tưởng tượng phong phú,sáng tạo dồi dào, dễ rung động, thích mơ mộng, ít thực tế.

-Năng khiếu về nghệ thuật, âm nhạc, màu sắc, lối nhìn góc cạnh, chi tiết, chuđáo.

-Giao tiếp tốt, tế nhị, mềm dẻo, vị tha, tính cộng đồng nhưng dễ bối rối và khổtâm.

Người ta phát hiện nhiều chức năng ưu thế, ở mức độ cấp cao đềutập trung ở bán cầu não phải chứ không phải bán cầu não trái, vì bán cầu não phải có cơ năng mang tính chỉnh thể, tổng hợp, sángtạo, chủ quan trực giác, trí tưởng tượng phong phú, nhạy cảm về thái độ, tìnhcảm, ý chí của con người.

Tuy rằng mỗi bên bán cầu não có chức năng riêng, song chúng luônhỗ tương lẫn nhau trong quá trình hoạt động. Vì vậy phát triển cân bằng cả báncầu não trái và bán cầu não phải là một trong những nguyên tắc quan trọng đểphát triển trí tuệ, giúp quân bình giữa tâm và trí nơi con người. Nói cách kháclà có được sự hòa hợp giữa cảm tính và lý tính. (Tham khảo: http://www.tgm.vn/ttgbct-c5-ban-so-huu-bo-nao-cua-mot-thien-tai/)

CẢM TÍNH VÀ LÝ TÍNHTRONG VẤN ĐỀ GIÁO DỤC

Cái học ngày nay hầu như người ta chỉ chú trọng về giáo dục lýtính mà quên đi vấn đề cảm tính thể hiện qua những cảm xúc của con người. Nóiđến giáo dục là phải nghĩ tới giáo dục con người, bao gồm toàn thể lý tính vàcảm xúc, trong đó yếu tố đạo đức, luân lý, là cực kỳ quan trọng. Như Andrew Chrucky,TS. Triết học, Trường Đại học
Fordham
University, Hoa Kỳ nói: “Giáo dục tổng quát - được hiểu mộtcách đúng đắn - bao gồm giáo dục nhận thức, đạo đức và cảm xúc. Và nếu giáo dụctổng quát được coi như một thứ nằm ngoài phạm vi của luân lý, thì nền giáo dụcđó sẽ tạo ra những kẻ ngụy biện, chứ không phải những người biện chứng, biếtdùng kỹ năng nhận thức để nâng cao đạo đức theo một cách có sự kiểm soát củacảm xúc”.

Tất cả các ngành học ngày nay hướng tới phục vụ con người bằngcách sản xuất ra của cải và tiện nghi hưởng thụ. Nó được kích cầu tối đa, tạora những nhu cầu mới, kích thích sự thèm khát tiêu thụ như trong quảng cáo,giúp cho nền kinh tế phát triển. Xã hội tiêu thụ - mua sắm những cái không cầnthiết và dư thừa - là đỉnh cao của xã hội công nghiệp ngày nay mà nước nào cũngmuốn nhắm tới.

Cho nên vấn đề phương pháp, chính xác, hoàn hảo, đắc lực, hiệuquả, vượt thời gian, kỷ lục, cạnh tranh, loại đối thủ… là yếu tố nòng cốtcho mọi kế hoạch thi hành, nên nó rất năng động và sát phạt trong quy trìnhdiễn tiến.

Mục đích của con người đi học để đạt được cái danh và cáilợi, mà đỉnh cao của nó mang tính CHUYÊN: chuyên môn, chuyên gia, chuyên viên,chuyên nghiệp…, và mang tính NHÀ: nhà nghiên cứu, nhà khoa học, nhà lý luận,nhà kinh tế, nhà kế hoạch, nhà chính trị… Cũng như thành công trong cuộcsống được đo lường và đánh giá bằng lương tháng, bằng lợi nhuận, bằng tiệnnghi… Nó trở thành tiêu chí để đánh giá tài năng hay bất tài, giỏi hay dốt, khôn hay dại, giá trị hay không ở đời.

Chung quy, cái học ngày nay đặt trong bối cảnh có một vị tríthuận lợi trên thị trường lao động, nhắm vào sự thành công về tài chính. Đểđược vậy, sự học phải được trau dồi những khối lượng kiến thức về lý thuyết,thực tiễn và kỹ thuật. Cho nên vấn đề cảm xúc, luân lý, đạo đức được đặt rangoài.

Đâylà một lỗ hổng lớn trong vấn đề giáo dục, nhưng nhiều người nghĩ rằng trau dồinhững kỹ năng nhận thức là có thể bù lại mọi khiếm khuyết trong giáo dục. Nhưngcác nhà nghiên cứu thấy rằng, thế giới này được cai trị và các nền văn minhđược thiết lập bắt nguồn từ những cảm xúc của con người, trong đó có luân lý vàđạo đức. Cảm xúc kích thích suy nghĩ và hành động, nên con người chịu ảnh hưởngtình cảm nhiều hơn là lý trí. Óc sáng tạo được chuyển hóa thành hành động lànhờ cảm xúc chứ không phải do lý trí lạnh lùng. Người ta cũng nhận thấy khảnăng suy luận xuất chúng chỉ cho ra đời các nhà phát minh, còn trí tưởng tượngtổng hợp với sáng tạo lại cho ra đời các thiên tài, như Blaise Pascal, Albert Einstein là những thiên tài điển hình.

NGƯỜIVIỆT NAM CẢM TÍNH HAY LÝ TÍNH

Vìvậy người VN thường sống theo cảm tính, nghĩa là suy nghĩ và hành động để chotình cảm, cảm xúc dẫn dắt, thay vì căn cứ vào các sự kiện hợp lý để định hướngcho công việc và cuộc sống. Đó là lúc con người sử dụng cảm giác để lý luận,khiến cảm tính trở thành yếu tố quan trọng khi đưa ra những quyết định. Cũng từđó, trong việc ăn ở đối nhân xử thế tuy có tình nhưng lại thiếu công minh, mặtkhác tin vào quyết định mình một cách mù quáng. Trong tổ chức thì thiên vị, tùytiện và thiếu khoa học. Sự phán đoán theo cảm tính thường sai lạc, không chínhxác, thiên lệch, bất công.  

TS.Phạm Gia Minh đăng trêntuanvietnam.net, đưa ra “Danh mục các thói hư, tậtxấu của người Việt thời nay" như sau:

A: An phận thủthường; Ăn bẩn; Ăn người; Ăn cắp vặt, Ăn hơn, làm kém; Ăn tục nói phét; Ảotưởng; Ăn xổi ở thì; Ẩu v.v…

B: Bàng quan;Bảo thủ; Bằng cấp giả; Bán trời không văn tự; Bài ngoại; Bắt cóc bỏ đĩa; Bócngắn, cắn dài; Bè phái; “Buôn dưa lê”; Bới bèo ra bọ v.v…

C: Cãi nhau tovì chuyện nhỏ; Chen ngang khi phải xếp hàng; Chọc gậy bánh xe; Chụp giật; Chửibậy, cục súc; Cờ bạc; Coi thường pháp luật; Cù nhầy; Cửa quyền; Cười không đúngchỗ, đúng lúc v.v…

D: Du di; Dị ứngtri thức; Dzô dzô ( ăn nhậu thái quá ) v.v…

Đ: Đâm bị thóc,chọc bị gạo; Để bụng; Đỏ đen; Đố kỵ; Đùn đẩy; Đua xe v.v…

E: Ép buộc; Épuổng v.v…

G: Gắp lửa bỏtay người; Gia trưởng; Giả dối; Giàu ghen, khó ghét; Giậu đổ bìm leo v.v…

H: Hách dịch;Hiếu chiến; Hòa cả làng; Hô khẩu hiệu suông; Hứa hão v.v…

I: Ích kỷhại người v.v…

K: Khoekhoang; Khôn lỏi; Không đúng giờ; Không chính kiến; “ Khuỳnh”; Kỳ vĩ v.v…

L: Làm láo, báocáo hay; Làm liều; Làm theo phong trào; Lập lờ nước đôi; Lệ làng; Lý nhẹ hơntình v.v…

M: Mạnh ai nấychạy; Mất đoàn kết khi sung sướng, đầy đủ; Mê tín v.v…

N: Ném bùn sangao; Nịnh trên nạt dưới; Nhai to; Nhậu nhẹt triền miên; Nhổ bậy; Nhếch nhác;Nghĩ ngắn hạn ( tư duy nhiệm kỳ ); Ngoáy mũi nơi đông người; Nói dai, nói dài,nói dại; Nói một đằng, làm một nẻo; Nói to nơi công cộng; Nói phách ( nói khoáclác); Nể nang; Nửa vời v.v…

O: Oai hão; Ômđồm; Ôm rơm rặm bụng; Ông giơ chân giò, bà thò nậm rượu ( thông đồng làm việckhuất tất ) v.v…

P: Phép vua thualệ làng; “Phong bì” ( hối lộ); Phô trương; Phung phí v.v…

Q: Qua cầu rútván; Qua loa đại khái; Quan liêu; Quan trọng hóa vấn đề; Quy hoạch treo v.v…

R: Ra oai; Ranhvặt; Rượu chè v.v…

S: Sai hẹn; Sĩdiện hão; Sính ngoại; Sợ trách nhiệm; Sợ người khác giỏi hơn mình v.v…

T: Tâm lývùng ( địa phương hẹp hòi ); Tiểu nông, tiểu trí; Tiểu xảo; Tiểu khí ( tiểunhân, hạn hẹp ); Tham nhũng; Thấy kẻ sang bắt quàng làm họ; Thụ động; Tư duynhiệm kỳ; Tự ti dân tộc nhược tiểu v.v…

U: Ưa xiểm nịnh;Ức hiếp kể yếu; Ừ hữ cho qua; Ương ngạnh v.v…

V: Vặt vãnh; Vẽvời; Vênh váo; Vị kỷ; Vị nể; Viển vông; Viết, vẽ bậy nơi công cộng; Vòi vĩnh;Vung tay quá trán v.v…

X: Xa dân;Xa rời thực tế; Xả rác nơi công cộng v.v…

Y: Ỷ lại;Ỷ quyền thế; Ý thức tập thể, cộng đồng kém v.v…

GS.TSKHTrần Ngọc Thêm, cho rằng, tất cả những tật xấu của người Việt đều có nguyênnhân từ nền văn hóa âm tính, nó nhằm đưa đến sự ổn định, nhưng trở ngại rất lớncho sự phát triển, cộng với nhiều tật xấu phát sinh.

Ôngnói: “Cả giá trị và tật xấu đều do nhữngđặc trưng nhất định của văn hóa truyền thống sinh ra. Chẳng hạn, đặc trưng tínhcộng đồng làng xã mang lại những phẩm chất tốt như tình đoàn kết, tinh thần tậpthể, lòng yêu quê hương, lòng biết ơn... thì đồng thời cũng là cội nguồn sinhra những tật xấu như thói bè phái, bệnh hình thức, bệnh sĩ diện, háo danh, bệnhthành tích. Đặc trưng tính linh hoạt mang đến phẩm chất sáng tạo, khả năngthích nghi cao thì cũng là cội nguồn sinh ra thói tùy tiện, cẩu thả, khôn vặt,bệnh thiếu ý thức pháp luật. Tổng hợp các đặc trưng mang đến phẩm chất tinh tế,nhân ái, yêu nước, tinh thần dân tộc cho người Việt thì cũng mang lại luôn cảbệnh giả dối, nói không đi đôi với làm...”.

Cũngtheo ông: "Một nền văn hóa âm tínhđậm đặc, với những con người lúc nào cũng chỉ lo "ổn định" luôn cómột lực lượng bảo thủ không cho phép phái cấp tiến làm gì tới nơi tới chốn”.

Cảmtính của người Việt Nam quá nặng nên nó làm mất quân bình cho cả một dân tộc vềcon người và sự phát triển của đất nước, cả về mặt tinh thần lẫn tổ chức xâydựng cộng đồng xã hội, ảnh hưởng đến cả trong tín ngưỡng và tôn giáo – về tổchức và trong sự nhận thức về tâm linh.

SỰ QUÂNBÌNH GIỮA CẢM TÍNH VÀ LÝ TÍNH

Luậtquân bình là cần thiết cho mọi vật, đặc biệt đối với con người trong lãnh vựctinh thần. Như đã trình bày ở mục chức năng của hai bán cầu não, chung quy,người mang cảm tính nặng chú trọng về tình cảm, mềm dẻo, ý tưởng sáng tạo dồidào, nhưng làm việc thiếu hệ thống, bấp bênh trong suy nghĩ, trong phán đoán vàhành động. Họ hay thay đổi, dễ chán nản, tin vào cảm xúc của mình nên mắc nhiềukhiếm khuyết trong quyết định, dễ hỏng việc trong hành xử, có thể đi đến sai lầm.Ngược lại người thiên về lý tính làm việc có kế hoạch, chắc chắn, kiên trì,nhưng dễ bị khô cứng trong lối tư duy, trong suy luận và trong kế hoạch hànhđộng. Họ thiếu sự sáng tạo, ít hòa hợp, khe khắt và khó chọn người cộng tác,căn cứ trên suy luận nên thiếu sự linh động và khó cảm thông với người khác, cóthể lệch lạc hoặc nhận định sai lầm trong những cảm xúc của người khác.

Để cóđược sự quân bình, cần phải biết học hỏi và trau dồi cả về tâm và trí. Cái tâmlà toàn thể đời sống nội tâm, bao gồm là ý chí, tình cảm, cảm xúc, tâm linh vànhững tri giác về thế giới, về con người xã hội trong sự liên đới với nhau. Cáitâm cần được chân lý soi sáng và dẫn dắt chứ không phải tin và căn cứ trên cảmxúc của mình. Cái trí là khả năng phán đoán, khả năng suy luận, đi từ tiền đề(có tính khái niệm), qua từng bước để kết luận vấn để, được kiểm nghiệm bằngthực tế. Theo quy trình phải qua từng bước: quan sát, so sánh, phân tích, tổnghợp, đặt giả thuyết, kết luận và chứng minh bằng phương pháp luận lý trên cơ sởkhoa học.

Thựcra để học hỏi và trau dồi về tâm và trí cho được quân bình là điều khó, ngaytrong những ngành giáo dục, từ tiểu học đến đại học, người ta thường chú trọngvề trí là chủ yếu - dù vẫn có những môn học về nhân văn - nên đây là một khiếmkhuyết khá lớn trong giáo dục, người đi học cần biết tự trau dồi mới có thể bùđắp cho khoảng trống này. Tây phương có nguồn gốc là du mục nên dương tínhnhiều, thiên về trí nên họ rất sắc xảo và phát triển về khoa học, cả khoa họctự nhiên lẫn khoa học thực nghiệm và kỹ thuật. Vì vậy vấn đề cảm tính – cảm xúc– ít hơn.

NgườiÁ Đông có nguồn gốc từ nông nghiệp, nên âm tính rất nhiều, có khuynh hướngthiên về cảm tính, lý tính ít được chú trọng. Để được quân bình, những triết lýcủa Đông phương đã điều chỉnh giúp con người lấy lại quân bình rất hữu ích,triết học được gọi là Đạo học, tiêu biểu nhất là Khổng, Phật và Lão. Tuy nó caosiêu nhưng ai cũng có thể áp dụng được, từ thấp lên cao, tùy theo căn cơ tudưỡng của mỗi người. Tuy đây chỉ là vấn đề thuộc tinh thần giúp con người hòahợp được giữa tâm và trí, tìm được lẽ sống ở đời, dựa vào những chân lý củatrời đất.

Trongkinh dịch, con người và vạn vật đều bị chi phối bởi quy luật Âm Dương. Để đượcquân bình thì âm dương phải hòa hợp, cân bằng, nương tựa vào nhau để tồn tại. Nếudương thịnh thì phát triển nhưng mạnh quá sẽ đi đến đổ vỡ, ngược lại nếu âm thịnhthì được ổn định nhưng nhiều quá sẽ bị trì trệ và suy thoái. Nó theo quy luật“dương thịnh âm suy” và ngược lại, nên tùy tình hình, tùy thời mà áp dụng cho thíchhợp. Cảm tính thuộc về Âm, lý tính thuộc Dương, nên điều chỉnh để áp dụng chocon người và tổ chức xã hội cũng theo quy luật này. Thuần âm hoặc thuần dươnglà tự hủy diệt, luôn luôn trong âm có dương và trong dương có âm như cái mầm đểnuôi sống . Cũng như Âm hoặc Dương nếu đi tới đỉnh điểm của nó sẽ bị biến độngbởi luật tương phản là: “Dịch cùng tắc biến,biến tắc thông, thông tắc cửu”. Nhưng nếu để nó tự biến hóa, hẳn conngười phải trải qua những gay cấn, nguy khốn khôn lường, một khi không biết lườngtrước để tự điều chỉnh cho mình cũng như cho như xã hội.  

Đức Khổngđã thâu tóm tinh hoa tư tưởng đạo lý của những thế hệ trước để khai mở ra Đạo Trung Dung , nó hợp với mọi tầng lớp vàđắng cấp xã hội, từ thứ dân cho tới quan quyền lãnh đạo. Trung là ở giữa, khôngthiên lệch bên nào, không thái quá (cực đoan, cố chấp…), không bất cập (vô tâm,bất chấp, bất cần…). Dung là giữ thường thường ở một mực không thay đổi, khôngbị biến thái, biến dạng lúc nặng lúc nhẹ theo cảm tính hay lý tính thiên lệch:“QUÂN TỬ THỜI TRUNG” (Quân tử xử kỷ tiếp vật lúc nào cũng tùy thời mà giữ cho vừaphải và chính đáng).

Nhà
Phật có giáo lý gọi là Trung Đạo, là con đường ở giữa, tức là sắc sắc - khôngkhông (sắc tức là không, không cũng là sắc – có mà không, không mà có). Nghĩalà không có sự cố chấp hay bám víu vào bất cứ cái gì, không lệ thuộc vào cáicó, không nô lệ vào cái không. Nó không cho phép câu nệ, ràng buộc, chấp chiếm,thiên lệch vào bất cứ sự việc sự vật nào. Không mắc vào hai cực đoan “có vàkhông” mà chọn con đường giữa. Hơn nữa nhà Phật còn đề ra ba trụ chính là Bi –Trí – Dũng để củng cố, trau dồi và luyện tập giúp con người vượt lên trên mọivật, nhận ra và thực hành chân lý chứ không nô lệ vào cảm tính (cảm quan) haylý tính (sở tri chướng)

Lãotữ thì chủ trương đạo Vô Vi, nó là Đạo giúp con người thoát khỏi những thamvọng làm chủ tâm trí, trong đó, lòng tham và sự yêu ghét là những dục vọng táchại nhất. Vô Vi là: “vi vô vi, sự vô sự, đại tiêu đa thiểu, báo oán dĩ đức”(làm Mà không làm, lo mà không lo, nếm mà không mùi, xem lớn như nhỏ, coi nhiềunhư ít, lấy đức báo oán). Và: “Dĩ kỳ bất tranh, cố thiên hạ mạc năng dữ chitranh” (Không tranh với ai cho nên không ai tranh giành với mình được).

KẾT

Như đã trình bày ở phần đầu, lý tríhay lý tính có nhiệm vụ tìm ra sự thật, tìm ra chân lý để dẫn dắt, soi sáng chonhững hành vi của con người khỏi lầm đường lạc lối. Cảm tính, cảm xúc hay tìnhcảm lại rất cần cho cuộc sống, là động lực thúc đẩy để con người hành động ,làm cho đời sống thêm phong phú, sáng tạo, sinh động, tạo nên một tâm hồn cósức sống, nhạy cảm, nhiệt huyết, được chan hòa tới mọi người và mọi vật.

Để được như vậy, yếu tố giáo dục là cực kỳ quan trọng,mà nói đến giáo dục thì phải mang tính toàn diện, từ gia đình, trường học, xãhội, pháp quyền, cách riêng và đặc biệt là trong lãnh vực tôn giáo. Nhưng dườngnhư giáo dục ngày nay có quá nhiều khiếm khuyết, còn nhiều lỗ hổng trong chươngtrình, trong kế hoạch để xây dựng con người và xã hội được tốt đẹp, hoàn bị cảvề Tâm và Trí.  

Vìvậy sự xáo trộn, bất an, nhiều hiện tượng xấu luôn xảy ra cho mỗi cá nhân và xãhội. Như GS. Trần Ngọc thêm nhận xét về đất nước: “Nói đến giáo dục phải nói tới một nền giáo dục trọn vẹn, nghĩa là giáodục nhà trường, giáo dục gia đình, cộng với giáo dục xã hội. Hiện nay giáo dụcxã hội không làm tròn được nhiệm vụ của mình vì đứa trẻ ra đường toàn thấynhững chuyện xấu xa. Hệ thống truyền thông của chúng ta chưa phải là chuẩn mực.Giáo dục gia đình cũng bị buông xuôi vì con người hiện nay chạy theo kinh tế.Tất cả những cái đó cho thấy hệ thống giáo dục đang bị vỡ ra thành từng mảnh”.

Cũngnhư Andrew Chrucky, TS. Triết học, Trường Đại học
Fordham
University, Hoa
Kỳ nói: “Giáo dục tổng quát - được hiểumột cách đúng đắn - bao gồm giáo dục nhận thức, đạo đức và cảm xúc. Và nếu giáodục tổng quát được coi như một thứ nằm ngoài phạm vi của luân lý, thì nền giáodục đó sẽ tạo ra những kẻ ngụy biện, chứ không phải những người biện chứng,biết dùng kỹ năng nhận thức để nâng cao đạo đức theo một cách có sự kiểm soátcủa cảm xúc”.

Nếuthuần cảm tính thì gần giống với tâm lý ở các động vật không có lý trí, còn nếuthuần lý tính thì cũng giống như những Robot vô cảm chỉ biết hành động theo lậptrình sẵn có. Nó đều nguy hại. Nhưng con người sống cần có tâm hồn, con tim, ý chí và lý trí lành mạnh, quân bình,để sống cho mình, cho người khác và cho cộng đồng xã hội. Đó là sự hòa hòa hợpgiữa cảm tính và lý tính.

Bài viết này được lấy cảm hứng từ cuốn sách “ Phi lý trí – Predictably Irrational ” của Dan Ariely về cách chúng ta đưa ra quyết định...


*

Bài viết này được lấy cảm hứng từ cuốn sách “Phi lý trí – Predictably Irrational” của Dan Ariely về cách chúng ta đưa ra quyết định khi bị kiểm soát bởi cảm xúc mãnh liệt.
*

Trong cuốn “Phi lý trí” có một chương tác giả trình bày một thử nghiệm khá thú vị ở một nhóm đối tượng là nam sinh viên về cách họ đưa ra quyết định khi ở trạng thái “lạnh” (trạng thái không bị kích thích hay có thể nói là khi lý trí bị chi phối bởi cái tôi siêu ngã) và khi ở trạng thái bị kích thích tình dục(trạng thái khi sự phòng vệ và đạo đức biến mất hoàn toàn). Điều thú vị là, dù cùng phải trả lời một hệ thống câu hỏi giống nhau, nhưng đáp án đưa ra ở hai trạng thái này lại có nhiều trái ngược, đặc biệt là những câu hỏi liên quan đến các hành vi phi đạo đức như cưỡng dâm. (Nội dung thử nghiệm được trình bày trong Chương 5 của cuốn sách)
Tương tự như sự hưng phấn trong tình dục của đàn ông, phụ nữ cũng rất dễ “mất kiểm soát” khi đi shopping với một cái thẻ tín dụng =)))) Cảm giác thăng hoa khi mua được những bộ đồ thời thượng và trendy mà không cần băn khoăn về giá rất dễ khiến phái đẹp chi tiêu quá đà, dù chỉ mới cách đó vài giờ họ còn đang lên kế hoạch rất tỉ mỉ cho việc “Tiết kiệm”.
Kết luận được đưa ra là “Bình thường chúng ta tưởng là đã hiểu được chính mình, nhưng trong trạng thái phấn khích mãnh liệt, bỗng nhiên có một sự chuyển đổi nội tại nào đó và mọi thứ thay đổi”, chúng ta sẽ khó mà hình dung được bản thân mình sẽ làm gì hay cư xử như thế nào khi mất đi lý trí nếu chưa thực sự trải qua nó. Tuy nhiên, điều này không có nghĩa là bạn phải hoàn toàn tìm kiếm câu trả lời thông qua trải nghiệm trực tiếp, sẽ vẫn có cách khám phá “con người thứ 2” của bản thân một cách gián tiếp.
Ví dụ như việc phụ nữ mang thai lần đầu sẽ khó hình dung được cảm giác đau đớn lúc sinh thường, do vậy họ sẽ khó quyết định có nên dùng thuốc giảm đau trước khi sinh hay không. Nhưng một vị bác sĩ sản phụ đã giúp những người phụ nữ này đưa ra lựa chọn dễ dàng hơn bằng cách yêu cầu họ nhúng tay vào một xô nước đá lạnh trong vòng 2 phút. Cảm giác này sẽ gần giống như cảm giác đau đẻ, nếu họ chịu đựng được, thì không cần thuốc giảm đau, và ngược lại.
Hiểu được cảm xúc của mình khi ở trạng thái đối lập và học cách làm chủ được nó khi bị kích thích (như cảm giác hưng phấn, tức giận, thù ghét….) là việc rất quan trọng giúp chúng ta đưa ra đưa ra những quyết định đúng đắn. Bạn biết đấy, bản thân chúng ta chưa chắc đã “kiên cường” như chúng ta nghĩ, cho nên hãy luôn phòng bị cẩn thận trước mọi cám dỗ:
Say NO” khi cảm giác nguy cơ hoặc nếu “Say YES” thì nên phòng bị một số cách ứng phó với hậu quả của việc “đánh gãy lý trí”.
Theo tác giả, bài học này có thể áp dụng trong nhiều trường hợp, ví dụ như "giáo dục giới tính". "Giáo dục giới tính nên tập trung nhiều hơn vào cách làm chủ được những cảm xúc phát sinh khi hưng phấn tình dục". Như đã nói ở trên, tránh xa cám dỗ luôn dễ hơn việc vượt qua nó. Nhưng nếu cảm xúc khiến bạn muốn loại bỏ tất cả những nguyên tắc của bản thân, thì hãy mang theo bao cao su.
Mình có một người bạn luôn nói “không” với Smartphone. Nó chung thành với chiếc điện thoại cục gạch chỉ có chức năng nhắn tin và gọi điện từ bao năm nay, bởi nó sợ dùng smartphone thì không chữa được tật lướt mạng xã hội thường xuyên. Đối với nó, mạng xã hội là một “CÁM DỖ”, nếu cái sự “CÁM DỖ” này cứ available thì không khác gì “mỡ dâng miệng mèo”. Vì thế, nó tìm cách “tránh càng xa càng tốt”. Tuy nhiên, stupid phone cũng đem lại những bất tiện trong sinh hoạt, ví dụ nó luôn phải gọi điện nhờ mình đặt giúp Grab/Be hoặc Google Map hoặc check một số thông tin khi cần gấp. Gần đây, nó được em trai cho một chiếc iphone 6, nhưng chiếc điện thoại đó luôn trong tình trạng không SIM và không có 3G. Mỗi lần gặp nhau, nó sẽ bắt mình share mạng cho nó dùng ké khi cần nhắn tin, hoặc nếu không có mình, nó sẽ tạt vào một cửa hàng tiện lợi nào đó dùng chùa wifi. Đôi khi mình cũng thấy khá là không thoải mái với phương pháp “né tránh tiến bộ của nhân loại” này của nó, nhưng mà âu cũng là một giải pháp =))))
Viết tới đây, mình cảm thấy đã lý giải được một phần tại sao những người luôn điềm tĩnh, trầm ổn lại có sức hút đến như vậy. Có lẽ bản thân đã đi qua nhiều thăng trầm, chứng kiến nhiều việc, thông qua trải nghiệm, họ nhìn thấy bản thân mình ở nhiều trạng thái cảm xúc khác nhau, thử và sai trong một thời gian dài khiến họ biết cách điều tiết chính mình, do vậy chúng ta thường thấy họ sáng suốt khi đưa ra các quyết định.

Xem thêm: Sự Thật Về Cây Mắc Ca Là Cây Gì ? Khám Phá Lợi Ích Bất Ngờ Của Cây Macca


Ai cũng muốn trở nên thông minh nên người ta tìm đến tri thức, nhưng ngoài sự thông minh sách vở, có lẽ chúng ta cũng cần thêm nhiều trải nghiệm để rèn luyện cảm xúc. "Đầu tư thời gian vào việc tìm hiểu hai con người trong chính bản thân mình, hiểu được trạng thái "nóng" và "lạnh" trong cùng một con người, nhìn thấy được khoảng cách giữa hai trạng thái đó đó" mang lại nhiều lợi ích cho cuộc sống của chúng ta, giúp tránh khỏi việc lầm đường lạc lối.