TTO - Tâm sự Gay là xấu hở ba, hở mẹ? (Tuổi Trẻ 2-11) nhận được nhiều phản hồi của bạn đọc với nhiều cảm xúc, góc nhìn. Mỗi ý kiến là một quan điểm khác nhau, song đều quy về một mối: đồng tính là bình thường.


Hãy nhìn nhận đồng tính là bình thường

Đồng thời, Tuổi Trẻ Online cũng nhận được email của một phụ huynh với nội dung: “Tôi có con gái đang học lớp 12, gần đây cháu có quan hệ tình cảm với bạn cùng giới học lớp 11. Tôi hỏi, cháu xác nhận và khẳng định "không thể xa nhau được nữa". Xin bác sĩ cho biết bệnh này có chữa khỏi không? Địa chỉ chữa bệnh này?” (bame…
yahoo.com)

Lá thư tuy ngắn, nhưng cũng đủ hình dung bao trăn trở của vị phụ huynh này. Vậy, đồng tính nam hoặc nữ có phải là bệnh? Có thể chữa khỏi không? Trả lời vấn đề này, TS.BS Lê Thúy Tươi cho biết:

FJ.jpg" alt="*">Phóng to
Ảnh minh họa: LAP

Cùng lúc đọc lá thư của bạn đọc bame…
yahoo.com, tôi nhận được điện thoại của một chị ở Cần Thơ “xin chữa bệnh đồng tính cho cháu gái”, một anh ở Bình Thuận than “vợ chồng sống với nhau đã có một mặt con, nay cô ấy bỏ đi sống chung với bạn gái, không đoái hoài gì đến cha con tôi”.

Bạn đang xem: Làm cách nào để hết bê đê

Cách đây 10 năm, dư luận xã hội ồn ào về chuyện đồng tính nam thì nay lại xuất hiện một đợt sóng ngầm về đồng tính nữ. Thế thì đồng tính nữ có thật không, hay đó chỉ là tình cảm nhất thời? Câu trả lời là “có” và “không”.

Còn một kiểu “giả” nữa, cái này chẳng ăn nhập gì với giới tính. Vì tâm đầu ý hợp, vì ngưỡng mộ, ích kỷ, sợ mất bạn, một số cô cậu mới lớn có kiểu sở hữu tuyệt đối bạn đồng giới (ngẫu nhiên) rồi hiểu lầm là đồng tính - BS Đỗ Minh Tuấn

Tại sao tôi lại có câu trả lời “ỡm ờ” như vậy? Bởi trong các trường THPT, việc các nữ sinh “yêu” nhau không còn xa lạ. Nhiều cô gái bị nhiễm phim ảnh, internet cho rằng đó là “hiện đại”. Có cô bị “bồ đá”, tìm đến một bạn gái để có người chia sẻ, hai người kể đủ thứ xấu của tụi con trai, nổi máu hận thù, từ đó cặp kè với nhau trước mặt tụi con trai như tuyên bố “chúng ta không thèm chơi với thứ con trai bạc tình nữa”.

Trong lớp có vài cặp yêu đương như thế, một số cặp khác làm theo. Khi “căn bệnh” đến lúc trầm kha, nếu cha mẹ phát hiện thì họ thường trả lời một câu giống nhau là “không thể xa nhau được”.

Số còn lại thấy tình cảm kiểu này cũng hay hay, lại không bị cha mẹ nghi ngờ như tình yêu trai gái nên cũng “yêu” bạn cùng giới. Tuy nhiên, nếu đã sa đà vào tình yêu đồng giới thì chính các cô gái không xác định được thật giả, không biết đó là cảm xúc nhất thời hay đó là xu hướng tình dục thật sự của mình.

Họ bị khủng hoảng tâm lý và đang tuổi đi học thì khủng hoảng tâm lý sẽ kéo theo bê trễ chuyện học hành. Nếu các bậc phụ huynh làm lớn chuyện, chia cắt họ thì càng nguy hiểm bởi đây là lứa tuổi ưa nói ngược, hành động ngược. Các bạn trẻ sẵn sàng phản ứng bằng cách bỏ nhà ra đi, thuê nhà trọ chung sống để chứng tỏ đó là tình yêu duy nhất.

Vậy đâu là đồng tính nữ thật? Tiếng Anh gọi các bạn nữ đồng tính là lesbian. Con gái dậy thì, hoóc môn buồng trứng tiết ra khiến bạn trở thành thiếu nữ với những đường cong tuyệt đẹp. Cùng lúc ấy là “ham muốn” xuất hiện, tuy nhiên các bạn gái trẻ ấy chỉ thích ngắm nhìn và xúc động mỗi khi nhìn bạn cùng giới, với các bạn trai thì dửng dưng.

Đa số các đồng tính nữ đều kín đáo. Họ sợ gia đình, bạn bè và nhà trường biết. Tuy nhiên, nếu nhìn vào thời trang và cung cách trong giới đồng tính nữ, bạn có thể nhận ra. Một bên “em” thì yểu điểu, ăn mặc diêm dúa’ bên “anh” là thời trang “unisex”, mặc đồ giống con trai, cắt tóc ngắn và đi đứng mạnh mẽ. Có bao nhiêu người lesbian thật? Theo ước tính ở các nước thì chỉ có khoảng 1,5%, chưa tới ½ so với con số 4% của giới gay (ở nước ta chưa có con số thống kê cụ thể).

Nếu là lesbian thật thì có thuốc chữa không? Tiếc là phải thưa với các ông bố, bà mẹ là “không” bởi đồng tính muốn nói tới xu thế tình dục, nên dù chụp MRI cũng không thấy có tổn thương trên não hay bất cứ vùng nào. Nếu đến 20 tuổi, cô gái vẫn chỉ yêu người đồng giới thì gia đình nên có thái độ chấp nhận. Cô gái sẽ cảm thấy hạnh phúc nếu được gia đình và xã hội đối xử công bằng, yêu thương.

Khi con cái nhận mình đồng tính, phụ huynh cần phân định: con đồng tính thật hay giả:

• Nếu thật, tức bẩm sinh, thì không có cách chữa, ít ra đến thời điểm này. Việc cần làm của các bậc phụ huynh là chấp nhận (tuy không dễ) và giảm thiểu tối đa hệ lụy nếu có. Chẳng hạn, trên nền “đã rồi”, bạn khuyên bảo con tránh để “tình cảm” ảnh hưởng học hành, tránh những hành vi xốc nổi…

• Trường hợp thứ hai gọi là giả, vì có một số bạn trẻ tạm thời rơi vào tình trạng lẫn lộn, lạc đường giới tính, vì nhiều lý do như sống khép kín, bị cưỡng ép (bị bắt ăn mặc, sinh hoạt như trai hoặc gái) hoặc sống trong môi trường “một bề” toàn nam hay nữ thời gian dài. Nếu đúng thì đây là cơ hội để bạn giúp con gái mình.

Có nhiều cách, tựu trung là gắng hướng con về phía người khác phái. Tạo điều kiện cho con hít thở một bầu không khí (sách báo, phim ảnh, giao tiếp…) có hình bóng nam nhi hơn. Mọi sự cần kiên nhẫn, khéo léo; tránh áp lực, đe nẹt, gấp gáp, sốt ruột. Đây là lỗi hay gặp của các phụ huynh muốn con mình “đằng sau quay” ngay lập tức. Như đã nói, do trời sinh thì hấp tấp cũng không giải quyết được, nếu do nhầm đường thì nắn chỉnh đúng cách cộng với thời gian thì ngã rẽ chính đạo sớm muộn cũng hiện ra.

Sẽ là con đường dài và gian nan trước mắt đối với các phụ huynh trong việc giúp con hiểu rõ bản thân mình. Phương kế, việc dạy việc, dần rồi cũng sáng ra, cái khó của bạn có lẽ là thái độ. Nếu cần, có thể nhờ đến sự trợ giúp của bác sĩ tâm lý. Còn việc điều chỉnh hoóc môn hầu như không có kết quả; phẫu thuật chuyển giới xét kỹ chỉ là chiều theo giới tính hiện hữu chứ không phải điều trị.


La mắng con: "Trời ơi, đó là thứ ô nhục, rác rưởi"Cảm thấy tủi nhục, nhưng lặng câm chịu đựng
Sốc, nhưng sau đó tìm hiểu vấn đề này để chia sẻ với con
Cảm thấy bình thường, ủng hộ chuyện tình cảm của conÝ kiến khác

Nhân dạng giới tính là ý thức chủ quan của sự nhận biết loại giới tính nào một cá nhân thuộc về; tức là, mọi người coi mình là nam, nữ, chuyển giới hay một thuật ngữ khác (ví dụ, genderqueer, phi nhị giới, vô giới).


Vai trò giới tính là sự thể hiện khách quan, công khai về bản dạng giới và bao gồm tất cả những gì mọi người nói và làm để chỉ ra cho bản thân và cho những người khác mức độ mà họ là giới tính mà họ xác định.


Hành vi vai trò giới rơi vào sự liên tục của nam tính và nữ tính truyền thống, với một sự công nhận rộng rãi về văn hoá rằng một số người không thích hợp – cũng không nhất thiết muốn hòa hợp – với sự phân đôi nam và nữ như truyền thống. Những người này có thể tự gọi mình là người genderqueer, phi nhị giới, hoặc là một trong nhiều thuật ngữ khác đã trở nên phổ biến hơn trong 10 năm qua. Hơn nữa, các định nghĩa và cách phân loại vai trò giới có thể khác nhau giữa các xã hội. Thuật ngữ chuyển giới đôi khi được sử dụng để chỉ những người có bản dạng giới tương ứng với giới tính được chỉ định khi sinh.


Các nền văn hoá phương Tây tỏ ra chấp nhận hơn với các hành vi khác thường về giới tính ở trẻ em gái (tomboy) (thường không bị coi là rối loạn về giới tính) so với các hành vi ẻo lả hoặc "điệu đà" ở trẻ em trai. Nhiều bé trai đóng vai là các cô gái hoặc các bà mẹ, kể cả cố gắng mặc quần áo của em gái hoặc mẹ. Thông thường, hành vi này là một phần của sự phát triển bình thường. Tình trạng không phù hợp giới (hành vi khác với các chuẩn mực văn hóa về giới tính khi sinh của một người) ở trẻ em không được coi là một rối loạn và thường không kéo dài đến tuổi trưởng thành hoặc dẫn đến chứng phiền muộn giới, mặc dù những trẻ em trai có tình trạng không phù hợp giới liên tục có thể dễ bị xác định là đồng tính hoặc song tính như người lớn.


Đối với hầu hết mọi người, có sự tương đồng giữa giới tính sinh học (khi sinh), nhân dạng giới tính và vai trò giới tính của họ. Tuy nhiên, những người có rối loạn phân định giới tính trải nghiệm một số mức độ không phù hợp giữa giới tính khi sinh và nhân dạng giới tính của họ.


Sự không tương đồng về giới không phải là một rối loạn. Một số thành viên của cộng đồng người chuyển giới coi các dạng cực đoan của sự không phù hợp về giới chỉ đơn giản là một biến thể bình thường trong nhận dạng và biểu hiện giới tính của con người. Tuy nhiên, khi nhận thức được sự không phù hợp giữa giới tính khi sinh và bản dạng giới khiến ai đó cảm thấy đau khổ hoặc khuyết tật đáng kể, thì chẩn đoán về chứng phiền muộn giới có thể phù hợp — tập trung vào nỗi đau khổ của người đó hơn là sự hiện diện của sự bất bình đẳng về giới. Đau khổ thường là sự kết hợp của lo âu, trầm cảm, và cảm xúc không ổn định. Những người mắc chứng phiền muộn giới nghiêm trọng, trước đây được gọi là người chuyển đổi giới tính, có thể gặp các triệu chứng nghiêm trọng, khó chịu và kéo dài và thường có mong muốn thay đổi cơ thể về mặt y tế và/hoặc phẫu thuật để làm cho cơ thể của họ phù hợp hơn với bản dạng giới của họ.


Mặc dù thiếu số liệu chính xác, nhưng ước tính có khoảng 0,005 đến 0,014% số nam giới tính khi sinh và 0,002 đến 0,003% số nữ giới tính khi sinh đáp ứng các tiêu chuẩn chẩn đoán về chứng phiền muộn giới, như đã nêu trong Cẩm nang chẩn đoán và thống kê về rối loạn tâm thần, Ấn bản thứ Năm (DSM-5). Nhiều người tự nhận mình là người chuyển giới nhưng không đáp ứng các tiêu chí về rối loạn phân định giới tính.


Chủ nghĩa chuyển đổi giới tính là một thuật ngữ lỗi thời và không còn được các chuyên gia trong nghiên cứu về chứng phiền muộn giới tính sử dụng.


Một số học giả cho rằng chẩn đoán chứng phiền muộn giới chủ yếu là một tình trạng bệnh lý với các triệu chứng tâm thần theo người, giống như rối loạn phát triển giới tính, và chủ yếu không phải là rối loạn tâm thần. Ngược lại, một số người mắc chứng phiền muộn giới trong cộng đồng người chuyển giới coi các dạng dị hợp giới cực đoan thậm chí là những biến thể bình thường hiếm gặp trong phạm vi nhận dạng giới tính của con người và biểu hiện bằng các triệu chứng tâm thần.


Các yếu tố sinh học (ví dụ, bổ sung di truyền, nội tiết tố trước khi sinh) quyết định phần lớn bản dạng giới. Một số nghiên cứu hình ảnh não bộ cho thấy những khác biệt về chức năng và giải phẫu ở những người mắc chứng loạn cảm về giới tính phù hợp với giới tính cảm nhận của họ (bản dạng giới) hơn là giới tính khi sinh của họ. Tuy nhiên, việc hình thành bản dạng giới an toàn, không bị ràng buộc và vai trò giới cũng bị ảnh hưởng bởi các yếu tố xã hội (ví dụ, đặc điểm mối quan hệ tình cảm của cha mẹ, mối quan hệ mà cha mẹ có với con cái). Một số nghiên cứu cho thấy tỷ lệ hòa hợp về chứng phiền muộn giới tính ở các cặp song sinh đơn hợp tử cao hơn so với các cặp song sinh dị hợp tử, cho thấy rằng có một yếu tố di truyền đối với tình trạng không thích hợp giới tính.

Xem thêm: Top 10 mẫu vẽ móng tay & chân đẹp nhất 2021, 9 mẫu móng vẽ hoa xinh mà không sến


*
, hội chứng Klinefelter Hội chứng Klinefelter (47,XXY) Hội chứng Klinefelter là ≥ hai nhiễm sắc thể X cộng với một Y, kết quả là một kiểu hình nam. Chẩn đoán dựa trên thăm khám lâm sàng và được xác định bằng phân tích di truyền tế bào. Điều trị... đọc thêm ).


Khi sự gắn nhãn và dạy dỗ về giới tính gây nhầm lẫn (ví dụ, trong trường hợp bộ phận sinh dục không rõ ràng hoặc hội chứng di truyền làm thay đổi bộ phận sinh dục, chẳng hạn như hội chứng không nhạy cảm androgen), trẻ em có thể không chắc chắn về vai trò hoặc nhân dạng giới tính của họ, mặc dù tầm quan trọng của các yếu tố môi trường vẫn còn gây tranh cãi. Tuy nhiên, khi sự gắn nhãn và dạy dỗ về giới tính là rõ ràng, thậm chí kể cả bộ phận sinh dục không rõ ràng cũng không ảnh hưởng đến sự phát triển nhân dạng giới tính của trẻ.


Rối loạn phân định giới tính ở trẻ em thường biểu hiện ở độ tuổi từ 2 đến 3 tuổi. Trẻ em mắc chứng phiền muộn giới tính thường làm như sau: